Kiểm chứng nguồn Biên tập viên duyệt Phân tích khách quan, không tô hồng Số liệu cập nhật
Chính trị & chính sách

Quốc khánh 2/9/2026: Vì sao Việt Nam chưa giàu, còn lệ thuộc FDI và thiếu công nghệ lõi?

Quốc khánh 2/9/2026: Vì sao Việt Nam chưa giàu, còn lệ thuộc FDI và thiếu công nghệ lõi?

Sau 81 năm độc lập, câu hỏi phải được đặt đúng bản chất

Ngày 2/9/2026 sẽ đánh dấu kỷ niệm 81 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tính từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình năm 1945. Đây không chỉ là dịp nhắc lại thành tựu lịch sử, mà còn là lúc phải trả lời thẳng một câu hỏi khó: Vì sao Việt Nam đã giữ được độc lập chính trị, đạt tăng trưởng cao trong nhiều thập niên, nhưng nền kinh tế vẫn chưa đủ mạnh để tự chủ về công nghệ, dược phẩm và thiết bị y tế?

Trước hết, nói Việt Nam “vẫn nghèo” mà không xác định tiêu chí là chưa chính xác. Việt Nam không còn là một nước nghèo theo phân loại thu nhập thấp của Ngân hàng Thế giới. Từ năm 2010, Việt Nam đã bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình thấp. Tỷ lệ nghèo giảm mạnh, hạ tầng, giáo dục phổ thông, điện khí hóa, tuổi thọ và khả năng tiếp cận dịch vụ cơ bản đều tiến xa so với thời điểm đất nước thống nhất.

Nhưng nếu “nghèo” được hiểu là thu nhập bình quân còn thấp, năng suất lao động hạn chế, doanh nghiệp nội địa yếu và người dân dễ tổn thương trước chi phí nhà ở, y tế, giáo dục, thì nhận xét đó có cơ sở.

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2024 GDP Việt Nam tăng 7,09%, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 476,3 tỷ USD, GDP bình quân đầu người xấp xỉ 4.700 USD. Đây là kết quả đáng ghi nhận, nhưng chưa phải mức thu nhập của một nước phát triển. Dữ liệu năm 2023 của Ngân hàng Thế giới cho thấy GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành của Việt Nam khoảng 4.300 USD, trong khi Thái Lan trên 7.000 USD và Malaysia trên 11.000 USD.

Khoảng cách đó không thể giải thích chỉ bằng chiến tranh, xuất phát điểm thấp hay thiên tai. Sau gần 40 năm Đổi mới, chất lượng thể chế, cách phân bổ nguồn lực, năng lực khoa học, hiệu quả giáo dục đại học và sức mạnh của doanh nghiệp trong nước phải được xem là những nguyên nhân trực tiếp.

Việt Nam đã thoát nghèo, nhưng chưa thoát khỏi nền kinh tế giá trị gia tăng thấp

Thành tựu lớn nhất của Việt Nam kể từ Đổi mới năm 1986 là chuyển từ tình trạng thiếu lương thực, khép kín và bị cấm vận sang một nền kinh tế có độ mở rất cao, tham gia sâu vào thương mại quốc tế. Tuy nhiên, tăng trưởng về quy mô không đồng nghĩa với làm chủ giá trị.

Một điện thoại thông minh xuất khẩu từ Việt Nam có thể được ghi toàn bộ vào kim ngạch xuất khẩu, nhưng phần giá trị thực sự ở lại nền kinh tế phụ thuộc vào nơi thiết kế con chip, sở hữu hệ điều hành, nắm bằng sáng chế, sản xuất linh kiện, cung cấp phần mềm và kiểm soát thương hiệu. Nếu doanh nghiệp tại Việt Nam chủ yếu lắp ráp, đóng gói và sử dụng nguyên liệu nhập khẩu, giá trị nội địa được hưởng sẽ thấp hơn nhiều so với giá xuất khẩu.

Nền kinh tế Việt Nam vẫn có một số điểm yếu cơ bản:

- Năng suất lao động tuyệt đối thấp hơn đáng kể so với các nền kinh tế công nghiệp hóa trong khu vực. - Phần lớn doanh nghiệp nội địa có quy mô nhỏ, vốn mỏng, công nghệ hạn chế và khó tham gia chuỗi cung ứng cấp cao. - Công nghiệp hỗ trợ chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu về linh kiện chính xác, vật liệu mới, hóa chất chuyên dụng và thiết bị sản xuất. - Nhiều ngành xuất khẩu lớn phụ thuộc vào máy móc, nguyên liệu, thiết kế hoặc mạng lưới phân phối nước ngoài. - Tín dụng và nguồn lực xã hội có thời kỳ chảy mạnh vào bất động sản, tài sản bảo đảm và hoạt động ngắn hạn hơn là nghiên cứu có rủi ro cao.

Báo cáo “Viet Nam 2045: Trading Up in a Changing World” của Ngân hàng Thế giới cảnh báo Việt Nam phải chuyển từ mô hình mở rộng xuất khẩu dựa vào lao động, đầu tư nước ngoài và lắp ráp sang mô hình có giá trị gia tăng nội địa cao hơn. Nếu không thực hiện được bước chuyển này, Việt Nam có nguy cơ tăng trưởng chậm lại trước khi đạt mức thu nhập cao.

Nói cách khác, Việt Nam đã thành công ở giai đoạn “tham gia chuỗi”, nhưng chưa thành công tương xứng ở giai đoạn “kiểm soát chuỗi”.

Lệ thuộc FDI là thực trạng, nhưng FDI không phải thủ phạm

Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa. FDI mang lại vốn, việc làm, đơn hàng xuất khẩu, kỹ năng quản trị và khả năng tiếp cận thị trường mà nền kinh tế Việt Nam khó có thể tự tạo ra trong thời gian ngắn.

Năm 2024, vốn FDI thực hiện tại Việt Nam đạt khoảng 25,35 tỷ USD, mức cao nhất tính đến thời điểm đó theo số liệu được Tổng cục Thống kê công bố. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cũng tạo ra hơn 70% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa. Samsung, Intel, LG, Foxconn, Canon và nhiều tập đoàn quốc tế đã biến Việt Nam thành một cứ điểm quan trọng trong mạng lưới sản xuất điện tử toàn cầu.

Vấn đề không nằm ở việc có FDI, mà ở chỗ doanh nghiệp Việt Nam học được gì và giữ lại được bao nhiêu sau nhiều năm thu hút FDI.

Tình trạng đáng lo là nền kinh tế hình thành hai khu vực chưa gắn kết chặt chẽ:

- Khu vực FDI có năng lực xuất khẩu lớn, công nghệ và quản trị tương đối hiện đại. - Khu vực doanh nghiệp trong nước chủ yếu cung cấp dịch vụ đơn giản, bao bì, vận tải, lao động hoặc linh kiện có hàm lượng kỹ thuật thấp.

Nhiều nhà cung cấp Việt Nam tham gia được vào chuỗi của tập đoàn quốc tế, nhưng số doanh nghiệp có thể cung cấp linh kiện cốt lõi, vật liệu đặc chủng, thiết bị sản xuất hoặc giải pháp sở hữu trí tuệ vẫn hạn chế. Phần nghiên cứu, thiết kế, tiêu chuẩn kỹ thuật, bằng sáng chế và thương hiệu thường nằm ngoài Việt Nam.

Một số ưu đãi đầu tư trước đây tập trung mạnh vào miễn giảm thuế, giá thuê đất, hạ tầng và lao động cạnh tranh. Trong khi đó, yêu cầu về đào tạo nhà cung cấp nội địa, trung tâm nghiên cứu thực chất, liên kết đại học và tỷ lệ mua hàng trong nước chưa tạo được kết quả đồng đều. Việt Nam cũng không thể tùy tiện ép buộc chuyển giao công nghệ, bởi việc này phải tuân thủ pháp luật và các cam kết quốc tế.

Vì vậy, gọi FDI là nguyên nhân làm Việt Nam yếu là phiến diện. Chính sách FDI thiếu chiều sâu, doanh nghiệp nội địa không đủ sức hấp thụ công nghệ và hệ sinh thái nghiên cứu yếu mới là phần cần chịu trách nhiệm.

“Xuất khẩu công nghệ cao” không đồng nghĩa với làm chủ công nghệ cao

Việt Nam thường được nhắc đến như một nước xuất khẩu lớn về điện thoại, máy tính và linh kiện điện tử. Nhưng cách phân loại hàng hóa có thể tạo ra một ảo tưởng: sản phẩm công nghệ cao được lắp ráp tại Việt Nam không nhất thiết là công nghệ do Việt Nam sở hữu.

Làm chủ công nghệ lõi thường đòi hỏi ít nhất bốn năng lực:

1. Tự thiết kế kiến trúc hoặc nguyên lý sản phẩm. 2. Sở hữu bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật hay phần mềm quyết định. 3. Kiểm soát quy trình sản xuất quan trọng và thiết bị then chốt. 4. Có khả năng nâng cấp sản phẩm mà không phụ thuộc hoàn toàn vào đối tác bên ngoài.

Trong lĩnh vực bán dẫn, Việt Nam đã có vị trí đáng kể ở khâu kiểm thử, đóng gói và một phần thiết kế. Chính phủ cũng ban hành Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn Việt Nam tại Quyết định 1018/QĐ-TTg ngày 21/9/2024. Tuy nhiên, từ đào tạo kỹ sư thiết kế đến làm chủ phần mềm thiết kế chip, vật liệu, thiết bị quang khắc và nhà máy chế tạo wafer là một khoảng cách rất lớn.

Không quốc gia nào tự sản xuất toàn bộ chuỗi bán dẫn. Ngay cả Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và các nước châu Âu cũng phụ thuộc lẫn nhau. Do đó, “tự chủ công nghệ” không nên bị hiểu thành tự cung tự cấp. Mục tiêu hợp lý hơn là Việt Nam phải nắm được một số khâu có giá trị chiến lược, sở hữu tài sản trí tuệ và có khả năng thay thế nguồn cung khi xảy ra khủng hoảng.

Hiện nay, Việt Nam có những năng lực đáng chú ý trong viễn thông, phần mềm, an ninh mạng, nông nghiệp, thanh toán số và một số sản phẩm quốc phòng. Nhưng các thành công riêng lẻ chưa đủ chứng minh đã hình thành một nền công nghiệp công nghệ lõi rộng và bền vững.

Có nhiều giáo sư không có nghĩa sẽ có nhiều phát minh thương mại

Câu hỏi “vì sao có nhiều giáo sư mà không có phát minh” phản ánh một bức xúc có thật, nhưng dễ dẫn tới kết luận sai nếu đánh đồng chức danh học thuật với năng lực đổi mới của cả nền kinh tế.

Giáo sư hoặc phó giáo sư là chức danh thể hiện thành tích học thuật theo tiêu chuẩn nhất định. Một phát minh có thể đi từ phòng thí nghiệm đến thị trường lại cần hàng loạt điều kiện khác: ngân sách nghiên cứu dài hạn, thiết bị hiện đại, nhóm kỹ thuật liên ngành, doanh nghiệp chấp nhận rủi ro, luật sở hữu trí tuệ, thử nghiệm sản phẩm, chứng nhận an toàn, vốn đầu tư và khách hàng đầu tiên.

Theo dữ liệu nghiên cứu và phát triển được Ngân hàng Thế giới tổng hợp từ UNESCO, chi tiêu cho R&D của Việt Nam chỉ vào khoảng 0,4% GDP ở năm dữ liệu gần đây có thể đối chiếu. Trong khi đó, Trung Quốc đã chi trên 2% GDP và Hàn Quốc gần 5% GDP. Các số liệu có thể khác nhau tùy năm và phương pháp thống kê, nhưng khoảng cách về quy mô đầu tư là rất rõ.

Một nhà khoa học Việt Nam có thể công bố tốt nhưng vẫn không thể tạo ra sản phẩm nếu:

- Phòng thí nghiệm thiếu thiết bị hoặc phụ thuộc vào dự án ngắn hạn. - Đề tài phải chi tiêu theo định mức hành chính cứng nhắc. - Thủ tục mua hóa chất và thiết bị kéo dài hơn chu kỳ nghiên cứu. - Trường đại học không có văn phòng chuyển giao công nghệ đủ năng lực. - Nhà khoa học không được hưởng phần lợi ích tương xứng từ sáng chế. - Doanh nghiệp thích mua công nghệ đã hoàn thiện thay vì đầu tư cho thử nghiệm có thể thất bại. - Cơ quan nhà nước đánh giá nghiên cứu bằng số đề tài và số bài báo, thay vì tác động công nghệ hoặc doanh thu cấp phép.

Chỉ trích giới giáo sư mà bỏ qua cơ chế là quy trách nhiệm sai địa chỉ. Tuy nhiên, giới học thuật cũng không thể đứng ngoài trách nhiệm. Nếu tiêu chuẩn chức danh quá thiên về công bố, hội đồng xét duyệt thiếu minh bạch, xảy ra tình trạng đứng tên hình thức hoặc công trình không tạo ra tri thức có giá trị, uy tín học thuật sẽ bị suy giảm.

Cần phân biệt rõ: không phải nghiên cứu nào cũng phải bán được hàng. Toán học, vật lý lý thuyết, khoa học xã hội hay nghiên cứu cơ bản có giá trị riêng. Nhưng với những chương trình được tuyên bố là nghiên cứu ứng dụng, việc không có nguyên mẫu, bằng sáng chế, chuyển giao hoặc người sử dụng sau nhiều năm là dấu hiệu phải kiểm toán và đánh giá lại.

Việt Nam không phải “không có phát minh”, nhưng khâu thương mại hóa rất yếu

Nhận định Việt Nam hoàn toàn không có sáng chế hoặc không có sản phẩm khoa học được ứng dụng là không đúng. Việt Nam đã tạo ra giống cây trồng, vaccine, phần mềm, thiết bị viễn thông, giải pháp thanh toán, sản phẩm cơ khí và nhiều quy trình kỹ thuật được sử dụng trong thực tế.

Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2024 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới xếp Việt Nam thứ 44 trong 133 nền kinh tế. Thứ hạng này cho thấy hiệu quả đổi mới của Việt Nam cao hơn mức có thể kỳ vọng nếu chỉ xét thu nhập bình quân. Đó là một điểm tích cực cần được ghi nhận.

Nhưng bảng xếp hạng tổng hợp không chứng minh Việt Nam đã làm chủ công nghệ nền tảng. Khoảng cách lớn nhất nằm ở quy mô và khả năng nhân rộng. Một nguyên mẫu thành công trong phòng thí nghiệm chưa phải sản phẩm công nghiệp. Một bằng sáng chế được cấp cũng chưa tạo ra giá trị nếu không có doanh nghiệp sử dụng. Một bài báo quốc tế không tự động biến thành dây chuyền sản xuất.

Những “thung lũng chết” thường xuất hiện giữa ba giai đoạn:

- Từ kết quả nghiên cứu đến nguyên mẫu. - Từ nguyên mẫu đến sản phẩm đạt tiêu chuẩn. - Từ sản phẩm đạt tiêu chuẩn đến đơn hàng thương mại.

Việt Nam có quỹ khoa học, quỹ đổi mới công nghệ, khu công nghệ cao và trung tâm đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, nguồn lực bị phân tán, chất lượng xét chọn chưa đồng đều, việc chấp nhận thất bại còn thấp và thị trường vốn cho công nghệ phần cứng chưa phát triển tương xứng.

Nếu mỗi địa phương đều muốn có khu công nghệ cao, phòng thí nghiệm trọng điểm hoặc trung tâm đổi mới riêng, ngân sách có thể bị chia nhỏ cho nhiều công trình nhưng không nơi nào đạt quy mô đủ lớn. Công nghệ lõi không hình thành từ khẩu hiệu hay tòa nhà; nó hình thành từ những nhóm nghiên cứu được tài trợ ổn định trong 10–20 năm và bị đánh giá nghiêm khắc bằng kết quả.

Sự phụ thuộc vào thuốc: điểm yếu nằm ở nguyên liệu và thuốc giá trị cao

Việt Nam có ngành sản xuất dược phẩm trong nước, vì vậy nói toàn bộ thuốc đều phải nhập khẩu là sai. Các nhà máy trong nước sản xuất được nhiều thuốc generic, thuốc thông thường và một số vaccine. Vấn đề là ngành dược vẫn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu, còn thuốc biệt dược, sinh phẩm, thuốc điều trị chuyên sâu và nhiều công nghệ bào chế phức tạp do doanh nghiệp nước ngoài chi phối.

Chiến lược quốc gia phát triển ngành dược đến năm 2030, tầm nhìn 2045 được phê duyệt tại Quyết định 1165/QĐ-TTg ngày 9/10/2023 đặt mục tiêu đến năm 2030 thuốc sản xuất trong nước đáp ứng khoảng 80% nhu cầu sử dụng và chiếm 70% giá trị thị trường; nguyên liệu làm thuốc sản xuất trong nước đáp ứng 20% nhu cầu.

Chính các mục tiêu này cho thấy năng lực tự chủ nguyên liệu hiện tại còn thấp. Một nhà máy có thể đặt tại Việt Nam, nhưng nếu hoạt chất dược, tá dược chuyên dụng, thiết bị, quy trình hoặc quyền sản xuất đều phụ thuộc bên ngoài, mức độ tự chủ vẫn hạn chế.

Có bốn nguyên nhân chính:

- Sản xuất hoạt chất đòi hỏi hóa chất tinh khiết, công nghệ phức tạp và chi phí xử lý môi trường cao. - Quy mô thị trường cho từng loại thuốc chưa đủ lớn để mọi dây chuyền đều có hiệu quả kinh tế. - Nghiên cứu thuốc mới cần vốn rất lớn, thời gian dài và tỷ lệ thất bại cao. - Cơ chế đấu thầu thiên về giá thấp có thể làm doanh nghiệp ngại đầu tư sản phẩm chất lượng cao nếu không nhìn thấy thị trường ổn định.

Tự chủ dược phẩm không có nghĩa sản xuất mọi loại thuốc. Việt Nam cần xác định danh mục chiến lược gồm vaccine, thuốc thiết yếu, một số kháng sinh, sinh phẩm chẩn đoán, nguyên liệu quan trọng và năng lực dự phòng khi chuỗi cung ứng quốc tế đứt gãy.

Máy móc y tế là một sự phụ thuộc còn rõ hơn

Việt Nam sản xuất được nhiều loại vật tư tiêu hao, đồ bảo hộ, giường bệnh, thiết bị đơn giản và một số sản phẩm chẩn đoán. Nhưng các hệ thống có giá trị cao như máy chụp cộng hưởng từ, máy CT, thiết bị xạ trị, robot phẫu thuật, máy xét nghiệm tự động và linh kiện chính xác phần lớn vẫn dựa vào nhà cung cấp nước ngoài.

Không nên lấy việc nhập khẩu thiết bị y tế làm bằng chứng duy nhất cho sự yếu kém. Nhiều nước phát triển cũng nhập thiết bị vì phân công lao động toàn cầu. Vấn đề của Việt Nam là khả năng bảo trì, thay thế linh kiện, hiệu chuẩn, cung cấp phần mềm và duy trì thiết bị có thể tiếp tục phụ thuộc vào hãng bán máy.

Khi hợp đồng bảo trì hết hạn hoặc linh kiện ngừng cung cấp, bệnh viện có thể sở hữu một tài sản đắt tiền nhưng không khai thác được đầy đủ. Nếu hồ sơ mời thầu khóa chặt vào cấu hình của một hãng, cạnh tranh cũng bị hạn chế. Đây vừa là vấn đề công nghệ, vừa là vấn đề quản trị mua sắm công.

Những vướng mắc nghiêm trọng về mua thuốc và thiết bị tại bệnh viện trong giai đoạn sau đại dịch buộc Chính phủ ban hành Nghị quyết 30/NQ-CP ngày 4/3/2023 để tháo gỡ một số trở ngại trong mua sắm, thanh toán và quản lý trang thiết bị y tế. Việc phải có một nghị quyết xử lý khẩn cấp cho thấy hệ thống không chỉ thiếu năng lực sản xuất mà còn có bất cập về định giá, đấu thầu và trách nhiệm ra quyết định.

Các vụ án tham nhũng trong lĩnh vực y tế cho thấy siết quản lý là cần thiết. Nhưng nếu pháp luật chồng chéo, giá tham chiếu không rõ và cán bộ sợ ký mọi quyết định, hậu quả cuối cùng lại do người bệnh gánh chịu. Chống tham nhũng và bảo đảm bệnh viện có thuốc, máy móc không phải hai mục tiêu loại trừ nhau; quản trị tốt phải thực hiện được cả hai.

Nút thắt sâu nhất là thể chế khuyến khích sự an toàn, không khuyến khích sáng tạo

Nghiên cứu công nghệ luôn có khả năng thất bại. Một thử nghiệm thất bại về mặt khoa học không đồng nghĩa với tham nhũng hoặc lãng phí. Nhưng nếu hệ thống quản lý không phân biệt được thất bại trung thực với hành vi trục lợi, người quản lý sẽ chọn đề tài dễ nghiệm thu, nhà khoa học chọn mục tiêu an toàn, còn doanh nghiệp không muốn hợp tác với khu vực công.

Ngược lại, lấy lý do “nghiên cứu có rủi ro” để hợp thức hóa mọi khoản chi cũng không thể chấp nhận. Tiền ngân sách phải chịu giám sát, kết quả phải công khai và hội đồng chuyên môn phải độc lập.

Mô hình phù hợp cần có hai lớp kiểm soát:

- Trao quyền rộng hơn về chuyên môn, tuyển người, mua sắm và điều chỉnh hướng nghiên cứu. - Kiểm toán nghiêm về xung đột lợi ích, gian lận dữ liệu, thông thầu, tài sản công và kết quả đầu ra.

Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một đột phá quan trọng. Chủ trương đã nêu đúng vấn đề. Thách thức là biến nó thành thay đổi trong phân bổ ngân sách, tuyển dụng nhân tài, quyền sở hữu kết quả nghiên cứu và cơ chế đặt hàng, thay vì tiếp tục bổ sung thêm thủ tục hoặc phong trào hành chính.

Giáo dục tốt ở phổ thông chưa đủ tạo ra một quốc gia công nghệ

Học sinh Việt Nam từng đạt kết quả đáng chú ý trong các kỳ đánh giá quốc tế và các kỳ Olympic. Tuy nhiên, năng lực giải bài thi không tự động chuyển thành khả năng phát minh, thiết kế sản phẩm hay xây dựng doanh nghiệp công nghệ.

Một nền kinh tế sáng tạo cần người học biết đặt câu hỏi, phản biện, làm việc liên ngành, chấp nhận sai và xây dựng sản phẩm. Trong khi đó, giáo dục Việt Nam vẫn chịu sức ép thi cử, học thêm, thành tích, bằng cấp và tâm lý ưu tiên câu trả lời “đúng mẫu”.

Ở bậc đại học, khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu công nghiệp thể hiện ở việc doanh nghiệp phải đào tạo lại, sinh viên thiếu trải nghiệm phòng thí nghiệm hoặc dự án thực tế, còn giảng viên bị chia thời gian cho giảng dạy, hành chính và công bố. Việc mở ngành nhanh mà thiếu giảng viên, thiết bị và đối tác doanh nghiệp có thể làm tăng số lượng bằng cấp nhưng không tăng năng lực công nghệ.

Bài toán nhân lực cũng không chỉ là giữ người Việt Nam ở lại. Một trung tâm nghiên cứu tốt phải có khả năng tuyển cả chuyên gia nước ngoài, trả lương cạnh tranh, bảo vệ tự do học thuật trong khuôn khổ pháp luật và đánh giá bằng chất lượng thực tế. Kêu gọi trí thức cống hiến bằng tinh thần yêu nước là cần thiết, nhưng không thể thay thế môi trường nghề nghiệp minh bạch.

Không thể đổ toàn bộ trách nhiệm cho quá khứ hoặc nước ngoài

Chiến tranh kéo dài, cấm vận, cơ sở vật chất kiệt quệ và xuất phát điểm thấp là những nguyên nhân lịch sử có thật. Việt Nam chỉ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ năm 1995 và gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới năm 2007. Khoảng thời gian hội nhập đầy đủ vì thế ngắn hơn nhiều nước Đông Á.

Tuy nhiên, lịch sử không thể trở thành lời giải thích vĩnh viễn. Hàn Quốc, Trung Quốc và một số nền kinh tế Đông Á cũng từng nghèo, nhưng họ dành nguồn lực rất lớn cho công nghiệp, R&D, giáo dục kỹ thuật và doanh nghiệp bản địa. Không mô hình nào có thể sao chép nguyên vẹn, song điểm chung là nhà nước đặt mục tiêu công nghệ cụ thể, chọn lọc doanh nghiệp có năng lực và loại bỏ dự án không đạt kết quả.

Việt Nam cần nhìn nhận trách nhiệm ở cả ba phía:

- Nhà nước chịu trách nhiệm về thể chế, cạnh tranh, giáo dục, ngân sách nghiên cứu và chất lượng đầu tư công. - Doanh nghiệp chịu trách nhiệm về chiến lược dài hạn, đầu tư công nghệ, quản trị và đạo đức kinh doanh. - Trường đại học, viện nghiên cứu chịu trách nhiệm về liêm chính học thuật, chất lượng đào tạo và hiệu quả sử dụng ngân sách.

Nếu chỉ đổ lỗi cho doanh nghiệp FDI, giáo sư, cán bộ hoặc “tư duy người Việt”, cuộc tranh luận sẽ rơi vào quy chụp và không tạo ra chính sách hữu ích.

Việt Nam cần thay đổi những gì để thoát khỏi vai trò gia công?

Thứ nhất, ưu đãi FDI phải gắn với kết quả có thể đo lường. Số vốn đăng ký không nên là chỉ tiêu trung tâm. Cần đánh giá số nhà cung cấp Việt Nam đạt chuẩn quốc tế, tỷ lệ nhân sự nghiên cứu trong nước, giá trị mua hàng nội địa, số bằng sáng chế phát sinh tại Việt Nam và mức đóng góp thuế thực tế.

Thứ hai, phải tập trung nguồn lực vào một số công nghệ thay vì dàn trải. Việt Nam khó cạnh tranh trên toàn bộ mặt trận bán dẫn, dược phẩm, hàng không, robot, vật liệu và trí tuệ nhân tạo cùng lúc. Những lĩnh vực được chọn phải dựa trên năng lực sẵn có, nhu cầu an ninh kinh tế và khả năng tham gia chuỗi toàn cầu.

Thứ ba, ngân sách R&D phải tăng cùng với cải cách quản trị. Đổ thêm tiền vào cơ chế xin–cho, hội đồng khép kín và nghiệm thu hình thức chỉ làm lãng phí lớn hơn. Các chương trình trọng điểm cần được phản biện quốc tế, công khai kết quả và dừng tài trợ nếu không đạt mốc kỹ thuật.

Thứ tư, Nhà nước có thể trở thành khách hàng đầu tiên cho sản phẩm công nghệ trong nước, nhưng không được biến mua sắm công thành nơi bảo hộ sản phẩm kém chất lượng. Bệnh viện, trường học, doanh nghiệp hạ tầng và cơ quan công quyền nên được phép thử nghiệm có kiểm soát, với tiêu chuẩn an toàn và trách nhiệm rõ ràng.

Thứ năm, cần xây dựng một số doanh nghiệp nội địa có khả năng dẫn dắt chuỗi cung ứng. Điều này không đồng nghĩa bao cấp vô điều kiện cho “doanh nghiệp sân sau”. Hỗ trợ phải có thời hạn, có chỉ tiêu xuất khẩu, nghiên cứu, năng suất và cơ chế thu hồi ưu đãi nếu thất bại.

Thứ sáu, quyền sở hữu và phân chia lợi ích từ kết quả nghiên cứu phải đủ hấp dẫn. Nhà khoa học, trường đại học và doanh nghiệp cần biết trước ai sở hữu sáng chế, ai được quyền thành lập công ty spin-off và ngân sách thu được từ chuyển giao sẽ được phân chia thế nào.

Thứ bảy, chiến lược tự chủ y tế phải dựa trên danh mục rủi ro. Việt Nam không cần tự sản xuất mọi máy móc và mọi loại thuốc, nhưng phải có kho dự trữ, nguồn cung thay thế, năng lực kiểm định, đội ngũ bảo trì và sản xuất trong nước đối với các sản phẩm thiết yếu.

Ý nghĩa thực chất của độc lập trong thế kỷ XXI

Độc lập năm 1945 trước hết là quyền tự quyết về chính trị và vận mệnh dân tộc. Trong thế kỷ XXI, quyền tự quyết còn phụ thuộc vào năng lực kinh tế, khoa học và khả năng chống chịu trước cú sốc bên ngoài.

Một quốc gia có thể có chủ quyền đầy đủ nhưng vẫn dễ bị tổn thương nếu thuốc thiết yếu, thiết bị chẩn đoán, chip điều khiển, nền tảng dữ liệu và máy móc sản xuất đều phụ thuộc vào một vài nguồn cung. Ngược lại, không quốc gia hiện đại nào hoàn toàn tự cung tự cấp. Tự chủ thực chất là có năng lực lựa chọn đối tác, thay thế nguồn nhập khẩu, đàm phán từ vị thế đủ mạnh và sở hữu một phần công nghệ quyết định.

81 năm sau ngày Quốc khánh, Việt Nam có quyền tự hào về việc giữ vững chủ quyền, thống nhất đất nước, giảm nghèo và xây dựng một nền kinh tế có quy mô lớn hơn nhiều lần so với thời kỳ đầu Đổi mới. Nhưng tự hào không được biến thành né tránh sự thật.

Sự thật là thu nhập của Việt Nam vẫn thấp so với nhiều nước trong khu vực; khu vực FDI đang giữ vai trò áp đảo trong xuất khẩu; doanh nghiệp trong nước chưa làm chủ nhiều công nghệ nền tảng; nghiên cứu và thương mại hóa còn tách rời; ngành dược phụ thuộc đáng kể vào nguyên liệu nhập khẩu; thiết bị y tế hiện đại phần lớn do nước ngoài cung cấp.

Đó không phải bằng chứng cho thấy Việt Nam “không làm được”. Nó cho thấy mô hình phát triển dựa vào lao động rẻ, đất đai, ưu đãi và lắp ráp đã tiến gần giới hạn. Nếu không cải cách thể chế, nâng đầu tư R&D, xây doanh nghiệp công nghệ bản địa và buộc ngân sách khoa học tạo ra kết quả có thể kiểm chứng, những khẩu hiệu về công nghệ lõi sẽ tiếp tục đi trước năng lực thực tế.

Kỷ niệm Quốc khánh có ý nghĩa nhất khi lòng yêu nước đi cùng khả năng nhìn thẳng vào điểm yếu. Độc lập đã giành được bằng hy sinh. Năng lực tự chủ về kinh tế và công nghệ chỉ có thể đạt được bằng kỷ luật thể chế, đầu tư dài hạn, liêm chính khoa học và trách nhiệm giải trình.