Quốc khánh 2/9/2026: Những tòa nhà mới chưa đủ chứng minh Việt Nam đã “vươn mình”
81 năm độc lập và câu hỏi không thể trả lời bằng khẩu hiệu
Ngày 2/9/2026 đánh dấu 81 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945. Tên nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa VI quyết định từ ngày 2/7/1976. Sự phân biệt này cần được ghi rõ để bảo đảm chính xác lịch sử, dù ngày 2/9 hằng năm vẫn là Quốc khánh của Việt Nam hiện nay.
Sau 81 năm, Việt Nam đã thay đổi sâu sắc. Đường cao tốc, sân bay, khu đô thị, nhà máy, cầu cảng và các tòa nhà cao tầng xuất hiện ngày càng nhiều. Nhưng sự phát triển của một quốc gia không thể chỉ được đo bằng số công trình mới, chiều cao của đường chân trời hay giá đất quanh các đại dự án.
Câu hỏi khó hơn là: Việt Nam tạo ra được bao nhiêu công nghệ có giá trị? Doanh nghiệp trong nước giữ phần nào trong chuỗi cung ứng? Bệnh viện có chủ động được thuốc, vật tư và thiết bị thiết yếu không? Người lao động có được hưởng mức lương tương xứng với năng suất? Ngân sách đầu tư có tạo ra dịch vụ công tốt hơn hay chỉ để lại tài sản xây dựng đắt tiền?
Nhận định “người dân chưa thấy sự phát triển thực sự” không thể áp cho toàn bộ hơn 100 triệu người. Mức sống, điện, đường, nhà ở, giáo dục và khả năng tiếp cận hàng hóa đã cải thiện rõ so với vài thập niên trước. Tuy nhiên, cảm giác hoài nghi là có cơ sở khi thành quả hữu hình không đi kèm tương xứng với chất lượng y tế, năng lực khoa học, thu nhập, an sinh và trách nhiệm giải trình.
Vấn đề không phải phủ nhận những gì đã làm được. Vấn đề là ngừng lấy công trình xây dựng làm bằng chứng thay thế cho năng lực quốc gia.
Những thành tựu thực tế cần được ghi nhận, nhưng không nên phóng đại
Theo Tổng cục Thống kê, GDP Việt Nam năm 2024 tăng 7,09%; quy mô nền kinh tế theo giá hiện hành ước đạt khoảng 476,3 tỷ USD, GDP bình quân đầu người khoảng 4.700 USD. Năng suất lao động theo giá hiện hành được ước tính khoảng 221,9 triệu đồng mỗi lao động.
Những con số này cho thấy nền kinh tế tiếp tục mở rộng. Việt Nam cũng đã trở thành một mắt xích đáng kể trong chuỗi sản xuất điện tử, dệt may, da giày, đồ gỗ, điện thoại và máy tính. Hạ tầng điện, viễn thông, cảng biển và giao thông tốt hơn là điều kiện quan trọng để thu hút đầu tư và kết nối thị trường.
Dữ liệu của Ngân hàng Thế giới cho thấy tỷ lệ người dân Việt Nam được tiếp cận điện đã tiến sát mức phổ cập. Báo cáo Phát triển con người 2023–2024 của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc ghi nhận chỉ số HDI của Việt Nam năm 2022 đạt 0,726, thuộc nhóm phát triển con người cao.
Đó là những tiến bộ có thật. Phủ nhận sạch trơn sẽ không khách quan.
Nhưng cũng từ các dữ kiện trên, không thể kết luận Việt Nam đã có nền kinh tế phát triển hoặc đã tự chủ công nghệ. GDP bình quân đầu người khoảng 4.700 USD vẫn cho thấy khoảng cách lớn với các nền kinh tế công nghiệp tiên tiến. HDI 0,726 phản ánh cải thiện về sức khỏe, giáo dục và thu nhập, song chưa phải mức của nhóm phát triển con người rất cao.
Tăng trưởng nhanh và phát triển sâu là hai khái niệm khác nhau. Một nền kinh tế có thể mở rộng nhờ vốn đầu tư, bất động sản, xây dựng, lao động giá cạnh tranh và doanh nghiệp nước ngoài mà chưa hình thành được hệ thống đổi mới sáng tạo mạnh.
Tòa nhà và đại lộ là tài sản vật chất, không phải thước đo đầy đủ của sức mạnh quốc gia
Một khu đô thị mới có thể làm thay đổi bộ mặt địa phương, tạo việc làm xây dựng và nâng giá trị đất. Một tuyến cao tốc có thể rút ngắn thời gian vận chuyển, giảm chi phí logistics và mở rộng không gian kinh tế. Vì vậy, không nên coi đầu tư hạ tầng là vô ích.
Điều cần phân tích là hạ tầng ấy phục vụ hoạt động sản xuất nào và mang lại lợi ích cho ai.
Nếu đường mới nối khu công nghiệp với cảng biển, giảm thời gian giao hàng và giúp doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, đó là đầu tư có khả năng nâng năng suất. Nếu bệnh viện mới có đủ bác sĩ, điều dưỡng, thuốc, thiết bị, hệ thống bảo trì và quy trình quản trị, công trình ấy có giá trị xã hội thực chất.
Ngược lại, một tòa nhà lớn nhưng thiếu người vận hành, một khu đô thị nhiều căn hộ bỏ trống, một bệnh viện có máy móc nhưng không đủ vật tư hoặc kỹ thuật viên, hay một tuyến đường đội chi phí và ít phương tiện sử dụng đều có thể trở thành gánh nặng.
Sự khác biệt nằm ở hiệu quả vòng đời, không phải lễ khánh thành.
Trong nhiều năm, thị trường bất động sản Việt Nam đã cho thấy một nghịch lý: nguồn lực xã hội lớn đổ vào đất đai trong khi doanh nghiệp công nghệ, công nghiệp hỗ trợ và nghiên cứu ứng dụng khó tìm nguồn vốn dài hạn. Giá đất tăng có thể làm giàu cho người nắm giữ tài sản nhưng không tự động làm tăng năng suất. Thậm chí, chi phí mặt bằng cao còn đẩy chi phí sản xuất, nhà ở và dịch vụ lên theo.
Một quốc gia không thể “vươn mình” chỉ bằng cách xây thêm những tài sản cần xi măng, thép, kính và đất. Năng lực bền vững nằm ở con người, thể chế, khoa học, doanh nghiệp và khả năng tổ chức sản xuất.
Vì sao Việt Nam vẫn phụ thuộc vào thuốc và nguyên liệu dược nhập khẩu?
Sự phụ thuộc trong ngành dược không có nghĩa Việt Nam không sản xuất được thuốc. Việt Nam có hệ thống doanh nghiệp dược nội địa và nhiều nhà máy đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc. Thuốc generic sản xuất trong nước đang được sử dụng rộng rãi.
Điểm yếu nằm ở tầng sâu hơn: nguyên liệu, thuốc phát minh, công nghệ bào chế phức tạp, sinh phẩm và khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Chiến lược quốc gia phát triển ngành dược đến năm 2030, tầm nhìn 2045 được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định 1165/QĐ-TTg ngày 9/10/2023 đặt mục tiêu đến năm 2030 thuốc sản xuất trong nước đáp ứng khoảng 80% nhu cầu sử dụng và chiếm 70% giá trị thị trường. Việc Chính phủ phải đặt ra mục tiêu này cho thấy năng lực hiện tại chưa đạt mức mong muốn về giá trị và mức độ tự chủ.
Ngành dược Việt Nam còn phụ thuộc đáng kể vào hoạt chất dược phẩm, tá dược, hóa chất, nguyên liệu sinh học và công nghệ từ nước ngoài. Một viên thuốc được đóng gói tại Việt Nam không đồng nghĩa toàn bộ chuỗi giá trị đã nằm trong nước. Nếu hoạt chất chính, thiết bị sản xuất, bản quyền quy trình và tiêu chuẩn kiểm nghiệm đều đến từ bên ngoài, phần giá trị nội địa có thể vẫn hạn chế.
Có ít nhất năm nguyên nhân:
1. Nghiên cứu thuốc mới rất tốn kém và rủi ro. Từ phát hiện hoạt chất đến thử nghiệm tiền lâm sàng, thử nghiệm lâm sàng và đăng ký lưu hành là quá trình kéo dài nhiều năm. Không phải doanh nghiệp Việt Nam nào cũng đủ vốn và năng lực chịu thất bại.
2. Quy mô thị trường chưa bảo đảm thu hồi vốn cho mọi dự án. Sản xuất nguyên liệu dược chỉ hiệu quả khi có sản lượng đủ lớn, công nghệ ổn định và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
3. Liên kết giữa trường, viện, bệnh viện và doanh nghiệp yếu. Nghiên cứu có thể dừng ở bài báo, đề tài nghiệm thu hoặc mẫu thử mà không bước sang sản xuất công nghiệp.
4. Cơ chế mua sắm thường ưu tiên giá và thủ tục hơn đổi mới. Sản phẩm mới trong nước khó được sử dụng nếu chưa có lịch sử thị trường, nhưng lại không thể có lịch sử thị trường nếu không được mua và đánh giá.
5. Năng lực bảo hộ sở hữu trí tuệ và phát triển thị trường quốc tế còn hạn chế. Làm ra một sản phẩm kỹ thuật mới chưa đủ; doanh nghiệp phải đăng ký bằng sáng chế, vượt qua đánh giá chất lượng và tổ chức phân phối.
Vì vậy, câu hỏi không nên dừng ở “Việt Nam sản xuất bao nhiêu loại thuốc”, mà phải đi tiếp: bao nhiêu hoạt chất do Việt Nam làm chủ, bao nhiêu sản phẩm có bằng sáng chế, bao nhiêu thuốc được xuất khẩu vào thị trường có tiêu chuẩn cao và bao nhiêu doanh thu được tái đầu tư cho nghiên cứu.
Thiết bị y tế: Có thể lắp ráp nhưng chưa chắc đã làm chủ
Thiết bị y tế là lĩnh vực trải dài từ vật tư đơn giản đến máy chẩn đoán hình ảnh, robot phẫu thuật, máy xạ trị, hệ thống xét nghiệm phân tử và phần mềm hỗ trợ lâm sàng. Việc gộp tất cả thành một ngành duy nhất dễ tạo ra kết luận sai lệch.
Việt Nam có khả năng sản xuất nhiều loại vật tư, giường bệnh, một số thiết bị điện tử y tế và sản phẩm chẩn đoán. Trong giai đoạn dịch Covid-19, doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu trong nước cũng tham gia sản xuất máy thở, bộ xét nghiệm, khẩu trang và vật tư phòng dịch.
Tuy nhiên, những hệ thống có giá trị cao tại bệnh viện vẫn phụ thuộc mạnh vào nước ngoài. Máy chụp cộng hưởng từ, máy chụp cắt lớp, hệ thống xạ trị, nhiều nền tảng xét nghiệm và linh kiện thay thế thường gắn với nhà sản xuất quốc tế. Sự lệ thuộc không chỉ nằm ở lúc mua máy mà còn ở phần mềm, hóa chất đồng bộ, bảo trì, hiệu chuẩn và đào tạo nhân lực.
Đây là điểm thường bị bỏ qua. Một bệnh viện có thể sở hữu máy hiện đại nhưng không thực sự làm chủ thiết bị nếu mỗi lần hỏng phải chờ chuyên gia, linh kiện hoặc mã phần mềm từ nước ngoài.
Các vụ án và sai phạm mua sắm y tế trong những năm gần đây cũng phơi bày lỗ hổng quản trị. Tại phiên sơ thẩm vụ Việt Á tháng 1/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên án nhiều bị cáo, trong đó có cựu Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long và cựu Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Chu Ngọc Anh. Vụ án AIC liên quan đấu thầu tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai trước đó cũng cho thấy nguy cơ thông thầu, nâng giá và chi phối quy trình mua sắm.
Đây là các vụ án đã được xét xử, không phải suy đoán. Nhưng cũng cần tránh kết luận rằng toàn bộ ngành y tế đều tham nhũng. Điều có thể khẳng định là cơ chế mua sắm từng tồn tại những kẽ hở nghiêm trọng và hậu quả không chỉ là thất thoát tiền. Khi cán bộ sợ trách nhiệm hoặc quy định thiếu rõ ràng, bệnh viện có thể chậm mua thuốc, vật tư và thiết bị; người bệnh là bên chịu tác động trực tiếp.
Tự chủ thiết bị y tế vì thế đòi hỏi đồng thời ba năng lực: sản xuất, quản trị mua sắm và vận hành kỹ thuật. Thiếu một trong ba, những máy móc đắt tiền vẫn có thể nằm im.
Nhiều giáo sư không đồng nghĩa có nền công nghiệp khoa học mạnh
Câu hỏi “vì sao có nhiều giáo sư mà vẫn phụ thuộc công nghệ” chạm đúng một nghịch lý, nhưng cần xác định đúng bản chất.
Giáo sư và phó giáo sư ở Việt Nam là chức danh học thuật được xét công nhận theo hệ thống tiêu chuẩn. Một người đạt chức danh có thể có thành tích nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo. Tuy nhiên, số lượng chức danh không phải chỉ số trực tiếp về số bằng sáng chế có giá trị, doanh thu công nghệ hay sản phẩm công nghiệp.
Một công nghệ y tế hoàn chỉnh cần cả chuỗi:
- Nhà khoa học phát hiện nguyên lý hoặc giải pháp; - Kỹ sư biến giải pháp thành mẫu thử; - Cơ sở thử nghiệm đánh giá độ an toàn và hiệu quả; - Doanh nghiệp thiết kế quy trình sản xuất hàng loạt; - Cơ quan quản lý cấp phép; - Bệnh viện hoặc thị trường chấp nhận sản phẩm; - Hệ thống tài chính cung cấp vốn trong thời gian đủ dài; - Đội ngũ thương mại hóa bảo vệ sở hữu trí tuệ và mở rộng thị trường.
Giáo sư chỉ là một mắt xích. Đòi hỏi cá nhân nhà khoa học tự hoàn thành toàn bộ chuỗi là không thực tế. Nhưng sử dụng số lượng giáo sư như một thành tích quốc gia trong khi sản phẩm nghiên cứu ít đi vào đời sống cũng không thuyết phục.
Theo dữ liệu nghiên cứu và phát triển được Ngân hàng Thế giới tổng hợp từ Viện Thống kê UNESCO, chi tiêu R&D của Việt Nam quanh mức 0,4% GDP trong năm dữ liệu có thể so sánh gần đây. Trong cùng hệ thống dữ liệu, tỷ lệ của Hàn Quốc ở mức gần 5% GDP, còn Trung Quốc vượt 2%. Các năm thống kê giữa từng quốc gia có thể không hoàn toàn trùng nhau, nhưng khoảng cách về cường độ đầu tư là rất rõ.
Không thể kỳ vọng kết quả tương đương Hàn Quốc khi mức đầu tư cho nghiên cứu tính theo GDP thấp hơn nhiều lần, thị trường vốn mạo hiểm nhỏ hơn và nhu cầu đặt hàng công nghệ nội địa yếu hơn.
Mặt khác, tiền không phải yếu tố duy nhất. Nếu ngân sách nghiên cứu bị chia nhỏ, thủ tục mua sắm kéo dài, đề tài được đánh giá chủ yếu bằng hồ sơ và số bài báo, thì tăng chi cũng chưa chắc tạo ra công nghệ.
“Việt Nam không có công nghệ lõi” là kết luận quá tuyệt đối
Nói Việt Nam hoàn toàn không có công nghệ lõi là không chính xác. Trong nước đã có năng lực nghiên cứu ở viễn thông, an ninh mạng, phần mềm, trí tuệ nhân tạo, thiết kế vi mạch, công nghệ quốc phòng, nông nghiệp, vật liệu và một số sản phẩm y sinh.
Viettel đã công bố phát triển thiết bị mạng 5G; FPT Semiconductor công bố dòng vi mạch quản lý nguồn do kỹ sư Việt Nam thiết kế và đặt gia công ở nước ngoài; nhiều doanh nghiệp phần mềm Việt Nam đã bán dịch vụ tại Nhật Bản, Mỹ và châu Âu. Những kết quả này không nên bị phủ nhận.
Nhưng gọi mọi sản phẩm có khâu thiết kế trong nước là “làm chủ công nghệ lõi” cũng là thổi phồng.
Trong ngành bán dẫn, doanh nghiệp có thể thiết kế chip nhưng vẫn phụ thuộc phần mềm thiết kế điện tử, kiến trúc sở hữu trí tuệ, nhà máy chế tạo, thiết bị quang khắc, vật liệu và khâu đóng gói tiên tiến từ nước ngoài. Trong ô tô điện, doanh nghiệp có thể làm chủ một phần thiết kế tổng thể nhưng vẫn mua cell pin, chip, cảm biến hoặc linh kiện từ chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong 5G, sản phẩm phải được đánh giá bằng thị phần thương mại, độ ổn định, bằng sáng chế thiết yếu và khả năng xuất khẩu, không chỉ bằng sự kiện trình diễn.
Thực tế là không quốc gia nào tự sản xuất toàn bộ mọi thứ. Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc hay các nước châu Âu cũng phụ thuộc lẫn nhau. “Tự chủ” hợp lý không phải đóng cửa và nội địa hóa bằng mọi giá, mà là kiểm soát được các khâu chiến lược, có nhà cung cấp thay thế và không bị tê liệt khi chuỗi cung ứng đứt gãy.
Vì vậy, thay vì tranh luận bằng hai cực “đã làm chủ” hoặc “không có gì”, cần công khai bốn chỉ số:
- Tỷ lệ giá trị gia tăng tạo ra trong nước; - Quyền sở hữu bằng sáng chế và thiết kế; - Mức phụ thuộc vào linh kiện, phần mềm hoặc nguyên liệu độc quyền; - Doanh thu thương mại từ sản phẩm do Việt Nam phát triển.
Nếu không có các dữ liệu này, cụm từ “công nghệ lõi” chỉ còn là nhãn quảng bá.
Xuất khẩu lớn nhưng giá trị Việt Nam giữ lại bao nhiêu?
Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu hàng hóa rất lớn so với quy mô nền kinh tế. Điện thoại, máy tính, linh kiện và máy móc nằm trong nhóm hàng xuất khẩu chủ lực. Đây là thành quả của chính sách hội nhập và thu hút đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, cơ cấu xuất khẩu cho thấy vai trò áp đảo của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Theo các báo cáo thống kê thương mại của Tổng cục Thống kê và cơ quan hải quan, khu vực này thường đóng góp hơn hai phần ba tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong những năm gần đây.
Một chiếc điện thoại xuất khẩu từ Việt Nam được tính vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, nhưng điều đó không có nghĩa toàn bộ giá trị của sản phẩm thuộc về doanh nghiệp và người lao động Việt Nam. Chip, màn hình, hệ điều hành, bằng sáng chế, thương hiệu và mạng lưới phân phối có thể nằm ở nước ngoài. Phần trong nước thường tập trung vào lao động, đất đai, dịch vụ, một số linh kiện, thuế và hoạt động hỗ trợ.
FDI không phải vấn đề cần bài xích. Không có dòng vốn này, Việt Nam khó tạo nhanh năng lực sản xuất và việc làm quy mô lớn. Vấn đề là sau nhiều năm tiếp nhận đầu tư, doanh nghiệp nội địa đã học được gì và tiến lên được bao nhiêu tầng trong chuỗi giá trị.
Nếu doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu cung cấp bao bì, vận tải, suất ăn, nhân công và linh kiện đơn giản, sự hiện diện của nhà máy công nghệ cao chưa đồng nghĩa nền kinh tế đã sở hữu công nghệ cao.
Tiêu chí thành công của FDI phải chuyển từ “bao nhiêu vốn đăng ký” sang “bao nhiêu nhà cung cấp Việt Nam đạt chuẩn, bao nhiêu kỹ sư nắm được thiết kế, bao nhiêu trung tâm R&D có quyền quyết định và bao nhiêu giá trị được giữ lại trong nước”.
Vì sao người dân có thể không cảm nhận được mức tăng trưởng được công bố?
GDP tăng không đồng nghĩa thu nhập của mọi nhóm dân cư tăng cùng tốc độ. Giá trị bất động sản tăng cũng không giúp người chưa có nhà; ngược lại, nó có thể khiến khả năng sở hữu nhà xa hơn.
Người dân đánh giá phát triển bằng trải nghiệm cụ thể:
- Tiền lương còn lại bao nhiêu sau khi trả nhà ở, học phí và viện phí; - Có mua được thuốc khi vào bệnh viện hay không; - Trẻ em được học trong lớp đông hay lớp đủ giáo viên; - Không khí, nước và thực phẩm có an toàn không; - Có phải chi thêm cho những dịch vụ vốn đã được ngân sách tài trợ; - Việc làm có hợp đồng, bảo hiểm và cơ hội thăng tiến hay không.
Năng suất lao động bình quân năm 2024 được Tổng cục Thống kê ước khoảng 221,9 triệu đồng mỗi lao động theo giá hiện hành. Đây không phải tiền lương người lao động nhận được. Chỉ số này phản ánh giá trị kinh tế bình quân tạo ra, trong đó còn có lợi nhuận doanh nghiệp, khấu hao, thuế và nhiều cấu phần khác.
Sự nhầm lẫn giữa năng suất, GDP bình quân và thu nhập thực nhận dễ dẫn đến cách truyền thông xa rời đời sống. Một gia đình không thể thanh toán tiền thuê nhà bằng “quy mô GDP”, cũng không thể chữa bệnh bằng số tầng của bệnh viện.
Cảm giác phát triển còn phụ thuộc vào công bằng phân phối. Nếu lợi ích từ đất đai và dự án tập trung vào một nhóm nhỏ trong khi người bị thu hồi đất khó chuyển nghề, tăng trưởng có thể đi kèm bất mãn. Nếu người thành thị hưởng hạ tầng tốt hơn còn vùng xa thiếu bác sĩ và giáo viên, số liệu bình quân sẽ che lấp chênh lệch.
Do đó, không thể bác bỏ trải nghiệm của người dân chỉ bằng một tỷ lệ tăng trưởng chung.
Truyền thông thành tích có thể gây hại nếu thay thế phản biện
Truyền thông chính sách có nhiệm vụ thông tin thành tựu, nhưng cũng phải chỉ ra chi phí, thất bại và phần việc chưa hoàn thành. Khi tin tức chỉ tập trung vào lễ khởi công, khánh thành, mục tiêu đứng đầu hoặc những cụm từ như “đột phá”, “làm chủ”, “kỷ nguyên mới”, công chúng khó phân biệt giữa kế hoạch và kết quả.
Ba sự nhập nhằng thường gặp cần được loại bỏ.
Thứ nhất, ký thỏa thuận không đồng nghĩa dự án đã vận hành. Biên bản ghi nhớ, cam kết đầu tư và vốn đăng ký không phải doanh thu thực tế.
Thứ hai, mẫu thử không đồng nghĩa sản phẩm thương mại. Một con chip, thiết bị y tế hoặc hệ thống phần mềm chỉ chứng minh giá trị khi vượt qua kiểm định, được sản xuất ổn định và có khách hàng trả tiền.
Thứ ba, xây xong công trình không đồng nghĩa dịch vụ đã tốt lên. Bệnh viện cần nhân lực và thuốc; trường học cần giáo viên; đường sắt cần năng lực khai thác; trung tâm đổi mới sáng tạo cần doanh nghiệp thật sự nghiên cứu.
Việc đưa tin một chiều còn tạo hiệu ứng ngược. Khi thành tích được mô tả lớn hơn trải nghiệm thực tế, niềm tin suy giảm. Người dân không nhất thiết phủ nhận phát triển; họ phản ứng với khoảng cách giữa lời nói và đời sống.
Truyền thông có trách nhiệm phải công bố cả mục tiêu không đạt, dự án chậm tiến độ, tỷ lệ nội địa hóa thấp, chi phí đội lên và nguyên nhân. Đó không phải “bôi xấu thành tựu”, mà là điều kiện để sửa sai.
Không nên biến tự chủ công nghệ thành chủ nghĩa hình thức
Tự chủ không có nghĩa sản xuất trong nước mọi linh kiện bằng bất cứ giá nào. Nếu một sản phẩm nội địa đắt hơn nhiều, chất lượng thấp và chỉ tồn tại nhờ chỉ định mua, ngân sách cùng người bệnh sẽ phải gánh hậu quả.
Nhưng phụ thuộc hoàn toàn vào một nguồn nhập khẩu cũng nguy hiểm. Đại dịch Covid-19 đã cho thấy khi chuỗi cung ứng toàn cầu gián đoạn, khẩu trang, hóa chất xét nghiệm, vaccine, thiết bị hồi sức và nguyên liệu dược có thể trở thành vấn đề an ninh quốc gia.
Cách tiếp cận hợp lý là phân tầng:
- Nhóm thiết yếu phải có năng lực dự phòng trong nước: vaccine cơ bản, thuốc thiết yếu, oxy y tế, vật tư cấp cứu, hệ thống dữ liệu y tế và một số thiết bị có nhu cầu lớn. - Nhóm cần tham gia chuỗi giá trị quốc tế: chip, cảm biến, máy xét nghiệm, thiết bị chẩn đoán và vật liệu chuyên dụng. - Nhóm không hiệu quả nếu tự làm toàn bộ: các hệ thống quá phức tạp, thị trường trong nước nhỏ hoặc cần vốn khổng lồ. - Nhóm phải đa dạng hóa nhà cung cấp: hoạt chất dược, linh kiện độc quyền, phần mềm và vật tư tiêu hao.
Nhà nước không nên chọn sản phẩm chỉ vì nhãn “nội địa”. Tiêu chuẩn phải là chất lượng, an toàn, tổng chi phí vòng đời và khả năng bảo đảm nguồn cung. Doanh nghiệp trong nước cần được mở đường bằng đặt hàng nghiên cứu và mua sắm minh bạch, không phải bằng đặc quyền thiếu kiểm soát.
Muốn “vươn mình”, Việt Nam cần thay đổi cách đo thành tích
Một bộ chỉ số thực chất cho giai đoạn sau năm 2026 nên ít chú trọng hình ảnh công trình hơn và tập trung vào năng lực.
Đối với y tế
Cần công bố định kỳ tỷ lệ thuốc thiết yếu được bảo đảm, thời gian thiếu thuốc, tỷ lệ hoạt chất sản xuất trong nước, thời gian máy y tế ngừng hoạt động và tổng chi phí bảo trì. Dữ liệu phải được tách theo tuyến trung ương, tỉnh và huyện thay vì chỉ đưa một con số bình quân.
Đối với khoa học và công nghệ
Không nên chỉ đếm đề tài, bài báo hoặc chức danh. Cần đo số bằng sáng chế được khai thác thương mại, doanh thu cấp phép, sản phẩm qua thử nghiệm, hợp đồng doanh nghiệp đặt hàng và tỷ lệ nghiên cứu tiếp tục tồn tại sau khi hết ngân sách.
Đối với FDI
Ngoài vốn đăng ký và vốn giải ngân, cần công khai tỷ lệ mua hàng từ doanh nghiệp Việt Nam, số nhà cung cấp nội địa đạt chuẩn quốc tế, giá trị R&D thực hiện trong nước và tỷ lệ nhân sự Việt Nam ở vị trí kỹ thuật cao.
Đối với đầu tư công
Mỗi dự án phải được đánh giá bằng lưu lượng sử dụng, thời gian tiết kiệm, chi phí vận hành, tác động môi trường và giá trị kinh tế tạo thêm. Không thể coi giải ngân hết tiền là đồng nghĩa với hiệu quả.
Đối với đời sống
GDP phải đi cùng thu nhập khả dụng, chi phí nhà ở, mức chi tiền túi cho y tế, chất lượng trường công, tỷ lệ việc làm chính thức và khả năng tiếp cận dịch vụ giữa các vùng.
Những chỉ số này khó làm đẹp hơn hình ảnh một cây cầu mới, nhưng phản ánh đúng hơn chất lượng điều hành.
Những cải cách khó nhưng không thể né tránh
Thứ nhất, Việt Nam cần nâng hiệu quả đầu tư cho R&D thay vì chỉ tranh luận về tỷ lệ ngân sách. Đề tài phải xuất phát nhiều hơn từ nhu cầu của bệnh viện, doanh nghiệp và thị trường. Cơ chế tài chính phải chấp nhận rằng nghiên cứu có thể thất bại; nếu mọi đề tài đều “thành công” trên hồ sơ, hệ thống đánh giá có vấn đề.
Thứ hai, cần xây dựng thị trường mua sắm công liêm chính cho sản phẩm mới. Nhà nước có thể đặt hàng công nghệ trong nước, nhưng toàn bộ tiêu chí, giá, kết quả thử nghiệm và xung đột lợi ích phải được công khai. Các vụ Việt Á và AIC cho thấy khi quan hệ lợi ích chi phối quy trình, khẩu hiệu “ủng hộ sản phẩm Việt Nam” có thể bị lợi dụng để hợp thức hóa sai phạm.
Thứ ba, phải tạo điều kiện để nhà khoa học tham gia doanh nghiệp, góp vốn bằng tài sản trí tuệ và nhận lợi ích hợp pháp từ thương mại hóa. Nếu quyền sở hữu kết quả nghiên cứu không rõ ràng, không ai có động lực đưa sản phẩm ra thị trường.
Thứ tư, giáo dục đại học cần chuyển trọng tâm từ số văn bằng sang năng lực giải quyết vấn đề. Công nghiệp dược, bán dẫn và thiết bị y tế không chỉ cần giáo sư mà còn cần kỹ sư quy trình, kỹ thuật viên phòng sạch, chuyên gia thử nghiệm lâm sàng, chuyên viên pháp quy và người quản lý sản phẩm.
Thứ năm, phải giảm đặc quyền của bất động sản trong phân bổ nguồn lực. Khi doanh nghiệp kiếm lợi từ đất dễ hơn đầu tư công nghệ, lời kêu gọi đổi mới sáng tạo khó tạo chuyển biến. Chính sách thuế, tín dụng và quy hoạch cần hạn chế đầu cơ nhưng không được gây sốc tùy tiện cho thị trường.
Cuối cùng, cơ quan quản lý phải chấp nhận công khai thất bại. Không một nền khoa học nghiêm túc nào chỉ có thành công. Không một chương trình công nghiệp nào đạt mọi mục tiêu. Thừa nhận dự án không hiệu quả để dừng lại ít tốn kém hơn tiếp tục bơm tiền nhằm bảo vệ hình ảnh.
Đánh giá công bằng: Việt Nam đã tiến xa, nhưng chưa thể tự mãn
Từ năm 1945 đến năm 2026, Việt Nam đã bảo vệ được chủ quyền quốc gia, thống nhất đất nước, thoát khỏi tình trạng cô lập, mở rộng thương mại và cải thiện đáng kể điều kiện sống. Những thành quả ấy không thể bị xóa bỏ chỉ vì hiện tại còn nhiều bất cập.
Tuy vậy, phát triển vật chất đang đi nhanh hơn năng lực công nghệ và chất lượng thể chế ở không ít lĩnh vực. Ngành dược còn phụ thuộc nguyên liệu và thuốc giá trị cao; thiết bị y tế phụ thuộc nhà cung cấp quốc tế; doanh nghiệp FDI chiếm phần lớn xuất khẩu; nghiên cứu chưa chuyển hóa tương xứng thành sản phẩm; thị trường đất đai vẫn hút nguồn lực lớn.
Vì thế, nói Việt Nam “không phát triển” là cực đoan. Nhưng dùng các khu đô thị, tòa nhà và đại dự án để chứng minh đất nước đã vươn lên về chất cũng thiếu căn cứ.
Một quốc gia thực sự mạnh không chỉ có thành phố đẹp. Quốc gia đó phải chữa được bệnh bằng hệ thống y tế đáng tin cậy, tạo ra công nghệ có người mua, giữ được nhân tài, bảo vệ người yếu thế và sử dụng ngân sách có trách nhiệm.
Ngày 2/9/2026 vì vậy không chỉ là dịp nhìn lại 81 năm độc lập. Đây còn là thời điểm cần đặt một tiêu chuẩn nghiêm khắc hơn cho hai chữ “vươn mình”: bớt ca ngợi điều chưa được kiểm chứng, công khai những phần còn phụ thuộc và đo thành tựu bằng năng lực thật thay vì hình ảnh bề mặt.