GDP tăng nhưng túi tiền chưa dày: đo tăng trưởng từ đời sống người dân và sức khỏe doanh nghiệp
Một nền kinh tế không thể được đánh giá chỉ bằng con số GDP đẹp
GDP Việt Nam năm 2024 tăng 7,09%, thuộc nhóm mức tăng cao trong khu vực. Theo Tổng cục Thống kê, quy mô nền kinh tế theo giá hiện hành đạt khoảng 11,5 triệu tỷ đồng, tương đương 476,3 tỷ USD; GDP bình quân đầu người đạt xấp xỉ 4.700 USD.
Đó là kết quả đáng ghi nhận sau mức tăng 5,05% của năm 2023. Nhưng GDP tăng cao không tự động có nghĩa mọi người dân đều kiếm được nhiều tiền hơn, doanh nghiệp đều có lãi hơn hay chất lượng sống đã cải thiện tương ứng.
Nói thẳng: GDP là thước đo quy mô hoạt động kinh tế, không phải bản sao số dư trong tài khoản ngân hàng của từng gia đình.
Một nhà máy có vốn đầu tư nước ngoài mở rộng sản xuất sẽ làm GDP tăng. Một dự án hạ tầng được giải ngân cũng làm GDP tăng. Giá trị gia tăng của ngân hàng, bất động sản, sản xuất công nghiệp và xuất khẩu đều được đưa vào GDP. Tuy nhiên, phần thu nhập cuối cùng đi vào túi người lao động, chủ doanh nghiệp nhỏ hoặc hộ kinh doanh có thể thấp hơn rất nhiều so với giá trị được tạo ra trên sổ sách thống kê.
Vì vậy, quan điểm “GDP và tăng trưởng thực sự nên được nhìn qua túi tiền người dân” có cơ sở chính đáng. Nhưng nếu hiểu rằng chỉ cần thay GDP bằng thu nhập hộ gia đình thì cũng chưa đủ. Điều cần thiết là đặt GDP bên cạnh một hệ thống chỉ tiêu phản ánh việc làm, tiền lương thực, chi phí sinh hoạt, phân phối thu nhập, sức khỏe doanh nghiệp và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu.
GDP đo điều gì và không đo điều gì?
GDP đo tổng giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ cuối cùng được tạo ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong một thời kỳ nhất định. Chỉ tiêu này đặc biệt hữu ích khi đánh giá tốc độ mở rộng của nền kinh tế, cơ cấu ngành, năng suất và dư địa ngân sách.
Nhưng GDP không trả lời trực tiếp được ít nhất sáu câu hỏi mà người dân quan tâm:
- Thu nhập sau thuế của mỗi gia đình tăng bao nhiêu? - Mức tăng đó có cao hơn lạm phát và chi phí nhà ở hay không? - Người lao động có việc làm ổn định hay chỉ làm việc tạm thời, phi chính thức? - Bao nhiêu doanh nghiệp đang có lãi, bao nhiêu doanh nghiệp phải thu hẹp hoặc đóng cửa? - Thành quả tăng trưởng tập trung vào khu vực, nhóm thu nhập và loại hình doanh nghiệp nào? - Người dân phải trả bao nhiêu cho y tế, giáo dục, giao thông và chỗ ở?
GDP bình quân đầu người khoảng 4.700 USD năm 2024 cũng không đồng nghĩa mỗi người Việt Nam nhận được 4.700 USD tiền mặt trong năm. Đây là phép chia tổng GDP cho dân số, bao gồm cả lợi nhuận doanh nghiệp, khấu hao tài sản, thuế sản phẩm, thu nhập của các khu vực sản xuất và nhiều cấu phần không trở thành tiền lương cá nhân.
Chỉ tiêu bình quân còn che khuất chênh lệch. Nếu thu nhập của nhóm trên cùng tăng mạnh trong khi nhóm thu nhập thấp gần như đứng yên, thu nhập bình quân vẫn có thể đi lên. Vì thế, một con số bình quân tốt không đủ chứng minh mức sống của đa số đều được cải thiện.
Một giới hạn khác là GDP tính theo lãnh thổ. Giá trị do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra tại Việt Nam được tính vào GDP Việt Nam, nhưng một phần lợi nhuận có thể được chuyển ra nước ngoài sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính. Muốn phân tích phần thu nhập thực sự thuộc về cư dân trong nước, cần xem thêm tổng thu nhập quốc gia, thu nhập khả dụng của hộ gia đình và cơ cấu phân phối giữa tiền lương, lợi nhuận, thuế và khấu hao.
Bức tranh năm 2024: tăng trưởng phục hồi là thật
Không nên vì đời sống còn khó khăn mà phủ nhận hoàn toàn kết quả phục hồi kinh tế. Theo báo cáo kinh tế - xã hội năm 2024 của Tổng cục Thống kê:
- GDP tăng 7,09%, cao hơn mức 5,05% của năm 2023. - Chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 3,63%. - Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt khoảng 405,5 tỷ USD. - Cán cân thương mại hàng hóa thặng dư gần 24,8 tỷ USD. - Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện đạt khoảng 25,35 tỷ USD, mức cao nhất đến thời điểm công bố. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng khoảng 9% theo giá hiện hành; nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng còn khoảng 5,9%. - Thu nhập bình quân tháng của người lao động được Tổng cục Thống kê ước khoảng 7,7 triệu đồng, tăng so với năm 2023.
Những con số này cho thấy sản xuất, xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng đã phục hồi. Thu nhập lao động danh nghĩa cũng tăng nhanh hơn CPI bình quân nếu xét trên toàn nền kinh tế.
Do đó, kết luận rằng “tất cả người dân Việt Nam đều ngày càng nghèo đi” là không có đủ căn cứ. Nền kinh tế đã tạo thêm giá trị, thu nhập bình quân tăng và thị trường lao động không rơi vào khủng hoảng thất nghiệp diện rộng.
Tuy nhiên, chiều ngược lại cũng phải được nói rõ: tăng trưởng phục hồi ở cấp độ vĩ mô không xóa được khó khăn ở cấp độ hộ gia đình và doanh nghiệp. Hai thực tế này có thể đồng thời tồn tại.
Vì sao GDP tăng mà nhiều người vẫn cảm thấy khó khăn?
Khoảng cách giữa thống kê vĩ mô và cảm nhận đời sống không nhất thiết bắt nguồn từ việc số liệu sai. Phần lớn khoảng cách xuất hiện vì mỗi chỉ tiêu đang đo một vấn đề khác nhau.
Thu nhập tăng nhưng chi phí thiết yếu có thể tăng nhanh hơn
CPI bình quân năm 2024 tăng 3,63%, nhưng CPI là mức bình quân của một rổ hàng hóa và dịch vụ. Cơ cấu chi tiêu thực tế của mỗi gia đình không giống nhau.
Hộ thu nhập thấp thường dành tỷ trọng lớn hơn cho thực phẩm, tiền thuê nhà, điện nước, học phí, y tế và đi lại. Chỉ cần một vài khoản thiết yếu tăng mạnh, áp lực mà họ cảm nhận có thể lớn hơn mức CPI bình quân.
Một người được tăng lương 6% không đương nhiên khá hơn 6%. Nếu tiền thuê nhà, học phí, chi phí chăm sóc người phụ thuộc và lãi vay cùng tăng, thu nhập khả dụng còn lại có thể giảm. Điều quyết định chất lượng sống không phải tiền lương danh nghĩa mà là thu nhập thực sau khi trừ lạm phát, thuế, bảo hiểm, tiền nhà và các chi phí bắt buộc.
Thu nhập bình quân che khuất sự khác nhau giữa các nhóm lao động
Mức thu nhập lao động khoảng 7,7 triệu đồng một tháng của năm 2024 là số bình quân. Người làm việc tại đô thị lớn, khu công nghiệp hoặc ngành chuyên môn cao có thể nhận nhiều hơn; lao động nông thôn, lao động tự do và người làm trong khu vực phi chính thức có thể thấp hơn đáng kể.
Việt Nam vẫn có một bộ phận rất lớn lao động làm việc phi chính thức. Nhóm này thường không có hợp đồng ổn định, ít được bảo vệ bởi bảo hiểm xã hội, dễ mất thu nhập khi đơn hàng giảm và khó tiếp cận tín dụng chính thức.
Một nền kinh tế có tỷ lệ thất nghiệp thấp chưa chắc đã có thị trường lao động chất lượng cao. Người lao động bán hàng rong, chạy xe công nghệ, làm việc thời vụ hoặc chấp nhận công việc dưới trình độ vẫn được tính là có việc làm. Nhưng việc làm đó có thể thiếu ổn định và không tạo đủ thu nhập để tích lũy.
Tài sản tăng giá không đồng nghĩa người không có tài sản được hưởng lợi
Khi giá đất, nhà ở hoặc tài sản tài chính tăng, người sở hữu tài sản có thể giàu lên nhanh chóng. Người chưa có nhà lại đối diện một khoảng cách ngày càng lớn giữa thu nhập và giá tài sản.
GDP không phản ánh đầy đủ vấn đề khả năng chi trả nhà ở. Trong khi đó, đây là khoản chi tiêu hoặc mục tiêu tích lũy lớn nhất của nhiều gia đình trẻ. Nếu tiền lương tăng một chữ số nhưng giá nhà tăng nhanh hơn trong nhiều năm, cảm giác “làm mãi không mua nổi nhà” là một vấn đề kinh tế thực, không chỉ là tâm lý bi quan.
Cần thận trọng với từng báo cáo giá nhà vì phạm vi khảo sát và phương pháp của các đơn vị tư vấn khác nhau. Tuy vậy, tình trạng thiếu nhà ở vừa túi tiền và lệch pha cung – cầu đã nhiều lần được Bộ Xây dựng, chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý thừa nhận.
Tăng trưởng có thể tập trung vào những khu vực ít lan tỏa
Năm 2024, xuất khẩu hàng hóa vượt 405 tỷ USD và vốn FDI thực hiện đạt hơn 25 tỷ USD. Đây là động lực quan trọng. Nhưng khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Nếu nguyên liệu, linh kiện và công nghệ chủ yếu được nhập khẩu; nếu doanh nghiệp trong nước chỉ tham gia các khâu giá trị gia tăng thấp; hoặc nếu tiền lương tăng chậm hơn năng suất và lợi nhuận, hiệu ứng lan tỏa đến túi tiền người dân sẽ bị hạn chế.
Điều này không phải lý do để phủ nhận FDI. Việt Nam cần FDI cho vốn, việc làm, xuất khẩu và công nghệ. Vấn đề nằm ở năng lực liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa, mức độ nội địa hóa, chuyển giao công nghệ và chất lượng việc làm được tạo ra.
Sức khỏe doanh nghiệp cho thấy một mặt tối không thể bỏ qua
Theo Tổng cục Thống kê, năm 2024 có khoảng 233.400 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Cùng thời gian, gần 198.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường dưới các hình thức tạm ngừng, chờ giải thể hoặc hoàn tất giải thể, bình quân khoảng 16.500 doanh nghiệp mỗi tháng.
Hai nhóm số liệu phải được đọc đồng thời.
Số doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường lớn hơn số rút lui cho thấy khu vực kinh doanh chưa suy sụp trên diện rộng. Nhưng gần 198.000 trường hợp rời thị trường cũng là tín hiệu rất nghiêm trọng. Không thể dùng tốc độ GDP 7,09% để phủ lên thực tế một lượng lớn doanh nghiệp phải ngừng hoạt động, thu hẹp hoặc giải thể.
Cũng cần tránh cách diễn giải sai rằng toàn bộ số doanh nghiệp rút lui đều đã phá sản. “Tạm ngừng kinh doanh”, “chờ làm thủ tục giải thể” và “hoàn tất giải thể” là các trạng thái pháp lý khác nhau. Tuy nhiên, dù ở trạng thái nào, chúng đều phản ánh hoạt động kinh doanh bị gián đoạn và có thể kéo theo mất việc, giảm thu nhập, nợ đọng giữa các doanh nghiệp.
Khó khăn thường tập trung rõ hơn ở doanh nghiệp nhỏ và vừa do các nguyên nhân:
- Sức mua phục hồi nhưng chưa đồng đều. - Biên lợi nhuận bị ép bởi chi phí nguyên liệu, logistics, lương, bảo hiểm và mặt bằng. - Khả năng vay vốn phụ thuộc vào tài sản bảo đảm và lịch sử tín dụng. - Công nợ bị kéo dài, trong khi doanh nghiệp vẫn phải nộp thuế, trả lương và thanh toán lãi vay. - Thủ tục hành chính, giấy phép và chi phí tuân thủ tiếp tục tiêu tốn nguồn lực. - Doanh nghiệp nội địa khó chen vào chuỗi cung ứng có tiêu chuẩn cao. - Thị trường bất động sản và trái phiếu doanh nghiệp sau giai đoạn chấn chỉnh tạo áp lực thanh khoản lên nhiều chủ thể liên quan.
GDP có thể tăng nhờ các tập đoàn lớn, xuất khẩu điện tử, đầu tư công hoặc ngành dịch vụ phục hồi, trong khi một quán ăn, xưởng may nhỏ hay doanh nghiệp xây dựng địa phương vẫn mất khách và thiếu dòng tiền. Không có mâu thuẫn thống kê ở đây; vấn đề là lợi ích tăng trưởng được phân bổ không đều.
Tăng doanh thu không đồng nghĩa tăng lợi nhuận
Một trong những ngộ nhận phổ biến là xem doanh thu bán lẻ tăng như bằng chứng chắc chắn rằng hộ gia đình và doanh nghiệp đều khỏe hơn.
Năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng khoảng 9% theo giá hiện hành, nhưng chỉ tăng khoảng 5,9% sau khi loại trừ yếu tố giá. Khoảng cách này cho thấy một phần đáng kể mức tăng doanh thu đến từ giá cả cao hơn, không hoàn toàn do người dân mua nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn.
Với doanh nghiệp, doanh thu tăng 10% vẫn có thể đi kèm lợi nhuận giảm nếu chi phí đầu vào, lãi vay, nhân công và vận chuyển tăng nhanh hơn. Dòng tiền còn có thể xấu đi nếu doanh nghiệp bán được hàng nhưng chưa thu được tiền.
Do đó, muốn đánh giá sức khỏe khu vực tư nhân phải theo dõi ít nhất bốn lớp dữ liệu:
1. Doanh thu thực sau khi loại trừ tăng giá. 2. Lợi nhuận trước và sau thuế. 3. Dòng tiền hoạt động. 4. Số việc làm, tiền lương và khoản nợ phải trả.
Chỉ nhìn số doanh nghiệp đăng ký mới hoặc tổng doanh thu là chưa đủ. Một doanh nghiệp được thành lập không đồng nghĩa đang hoạt động hiệu quả; doanh nghiệp chưa giải thể cũng chưa chắc còn sản xuất bình thường.
Lạm phát thấp không có nghĩa giá cả quay về mức cũ
CPI tăng 3,63% trong năm 2024 nghĩa là mặt bằng giá tiếp tục tăng, chỉ là tốc độ tăng được kiểm soát. Lạm phát giảm không đồng nghĩa hàng hóa trở nên rẻ hơn.
Ví dụ, một mặt hàng đã tăng giá mạnh trong hai năm trước, sau đó chỉ tăng nhẹ trong năm tiếp theo, sẽ khiến tỷ lệ lạm phát mới thấp hơn. Nhưng người mua vẫn phải trả trên nền giá cao đã được thiết lập.
Đây là lý do người dân có thể nghe thông tin “lạm phát được kiểm soát” nhưng vẫn thấy chi tiêu căng thẳng. Cả hai nhận định đều có thể đúng:
- Cơ quan thống kê đúng khi xác định tốc độ tăng của rổ CPI bình quân. - Hộ gia đình cũng có cơ sở khi phản ánh tổng hóa đơn hàng tháng cao hơn đáng kể so với vài năm trước.
Điểm cần làm rõ là mức sống phải được đo bằng thu nhập thực tích lũy qua thời gian, không chỉ so tiền lương và CPI trong một năm đơn lẻ. Nếu giá tăng liên tục trong nhiều năm còn lương chỉ điều chỉnh chậm, sức mua đã mất trước đó không tự động được phục hồi.
Ngoài ra, CPI không phản ánh hoàn hảo giá tài sản như nhà ở để mua, đất đai hay cổ phiếu. Một nền kinh tế có CPI tương đối ổn định vẫn có thể chứng kiến giá tài sản vượt xa khả năng tích lũy của phần lớn người làm công.
Không nên biến GDP thành “thủ phạm” của mọi khó khăn
Phê phán việc chạy theo thành tích GDP không có nghĩa GDP là chỉ tiêu vô dụng. Nếu loại bỏ hoặc xem nhẹ GDP, nhà hoạch định chính sách sẽ mất một công cụ nền tảng để đo quy mô sản xuất, chu kỳ kinh tế, năng suất, nợ công và nguồn thu ngân sách.
GDP tăng nhanh và bền vững vẫn rất quan trọng. Không có tăng trưởng, việc tăng lương, mở rộng an sinh, đầu tư bệnh viện, trường học và hạ tầng sẽ khó khăn hơn. Vấn đề không nằm ở bản thân GDP mà ở cách sử dụng nó.
Sai lầm xảy ra khi:
- Dùng GDP để đại diện cho toàn bộ chất lượng sống. - Công bố thành tích tăng trưởng nhưng không phân tích nhóm nào được hưởng lợi. - Đánh giá địa phương chủ yếu bằng tốc độ mở rộng sản xuất và giải ngân. - Xem số doanh nghiệp thành lập mới mà bỏ qua số doanh nghiệp ngừng hoạt động. - Dùng thu nhập bình quân để che khuất thu nhập trung vị và bất bình đẳng. - Đánh đồng việc có việc làm với việc làm ổn định, đủ sống. - Chỉ nhấn mạnh vốn đầu tư đăng ký mà không đánh giá hiệu quả, năng suất và tác động môi trường.
Một quốc gia nghèo không thể phân phối thứ mình chưa tạo ra. Nhưng một nền kinh tế tăng nhanh cũng không mặc nhiên phân phối công bằng những gì đã tạo ra. Tăng trưởng và phân phối là hai bài toán liên quan nhưng không thể thay thế cho nhau.
“Túi tiền người dân” phải được đo bằng những chỉ số nào?
Nếu muốn biến khẩu hiệu thành chính sách, “túi tiền người dân” phải được lượng hóa. Một bộ chỉ tiêu đáng tin cậy nên bao gồm các nhóm sau.
Thu nhập khả dụng thực của hộ gia đình
Đây là thu nhập còn lại sau thuế và các khoản đóng góp bắt buộc, được điều chỉnh theo lạm phát. Chỉ tiêu này gần đời sống hơn tiền lương danh nghĩa.
Dữ liệu cần tách theo:
- Nhóm 20% thu nhập thấp nhất đến 20% cao nhất. - Thành thị và nông thôn. - Vùng kinh tế. - Giới tính. - Lao động chính thức và phi chính thức. - Hộ có trẻ em, người già hoặc người khuyết tật.
Mức tăng bình quân toàn quốc không cho biết nhóm thu nhập thấp có tiến bộ hay không.
Thu nhập trung vị
Thu nhập trung vị là mức nằm chính giữa phân phối: một nửa dân số có thu nhập thấp hơn và một nửa cao hơn. Chỉ tiêu này ít bị méo bởi nhóm thu nhập rất cao hơn số bình quân.
Nếu thu nhập bình quân tăng nhanh nhưng thu nhập trung vị tăng chậm, có khả năng thành quả tăng trưởng đang tập trung vào nhóm trên. Việt Nam cần công bố và sử dụng rộng rãi hơn các chỉ số trung vị trong truyền thông kinh tế.
Chi phí sinh hoạt thiết yếu
Cần xây dựng các thước đo chi phí sống sát hơn với từng vùng, nhất là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các trung tâm công nghiệp. Một mức lương có thể đủ sống ở địa phương này nhưng không đủ trả tiền thuê nhà và nuôi con ở địa phương khác.
Ngoài CPI chung, nên công bố rõ biến động của:
- Tiền thuê nhà. - Giá điện, nước và nhiên liệu. - Học phí và chi phí học tập thực tế. - Chi tiêu y tế trực tiếp từ hộ gia đình. - Chi phí đi lại. - Giá thực phẩm thiết yếu. - Tỷ lệ giá nhà trên thu nhập.
Chất lượng việc làm
Số người có việc làm cần đi kèm số giờ làm, mức lương, hợp đồng, bảo hiểm xã hội, độ ổn định và khả năng bảo vệ người lao động.
Một lao động phải làm thêm giờ kéo dài mới đủ trang trải không thể được xem là có chất lượng sống tương đương người nhận cùng thu nhập trong giờ làm bình thường. Tương tự, người có thu nhập khá trong một tháng nhưng có nguy cơ mất việc ngay tháng sau vẫn ở trạng thái dễ tổn thương.
Sức khỏe thật của doanh nghiệp
Bên cạnh số đăng ký mới, cơ quan quản lý cần công bố dễ tiếp cận hơn các chỉ báo về:
- Doanh nghiệp thực sự phát sinh doanh thu và nộp thuế. - Tỷ lệ doanh nghiệp có lợi nhuận. - Việc làm ròng được tạo mới. - Nợ quá hạn và thời gian thu hồi công nợ. - Chi phí tuân thủ thủ tục. - Tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận được tín dụng. - Năng suất của doanh nghiệp tư nhân trong nước. - Tỷ lệ doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng FDI.
Nếu gần 198.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong năm 2024, việc phân tích nguyên nhân theo ngành, quy mô và địa phương phải được coi là dữ liệu quản trị, không chỉ là một dòng phụ trong báo cáo vĩ mô.
Thành tích tăng trưởng phải gắn với trách nhiệm giải trình chính trị
GDP không chỉ là vấn đề kinh tế. Cách lựa chọn và công bố chỉ tiêu còn liên quan đến trách nhiệm của bộ máy quản lý.
Khi mục tiêu tăng trưởng trở thành áp lực thành tích, có nguy cơ chính sách ưu tiên những dự án làm tăng sản lượng ngắn hạn nhưng hiệu quả xã hội thấp. Đầu tư dàn trải, chạy theo quy mô, thủ tục giải ngân nặng hình thức hoặc khai thác tài nguyên quá mức có thể tạo GDP hiện tại nhưng để lại nợ, ô nhiễm và chi phí khắc phục trong tương lai.
GDP cũng không tự trừ đi thiệt hại môi trường. Hoạt động khai thác tạo ra giá trị kinh tế được cộng vào GDP; chi phí xử lý ô nhiễm sau đó cũng có thể tạo thêm hoạt động dịch vụ và tiếp tục được tính. Về kế toán, GDP tăng. Về phúc lợi, xã hội có thể bị mất ròng.
Vì vậy, báo cáo trước Quốc hội và hội đồng nhân dân không nên chỉ nêu tốc độ GDP hoặc GRDP. Cần trả lời trực diện:
- Thu nhập thực của nhóm thấp nhất tăng hay giảm? - Có bao nhiêu việc làm chính thức được tạo thêm? - Tỷ lệ hộ phải chi quá lớn cho y tế, giáo dục và nhà ở là bao nhiêu? - Bao nhiêu doanh nghiệp ngừng hoạt động vì thiếu đơn hàng, bao nhiêu vì thủ tục hoặc thiếu vốn? - Đầu tư công tạo ra năng suất mới hay chỉ hoàn thành khối lượng xây dựng? - Khoảng cách thu nhập và cơ hội giữa các vùng thay đổi thế nào?
Đây không phải cách “hạ thấp thành tích”. Ngược lại, đó là cách buộc thành tích phải chịu kiểm chứng bằng kết quả đời sống.
Chính sách nào có thể đưa tăng trưởng vào túi tiền người dân?
Tạo việc làm có năng suất thay vì chỉ tạo việc làm giá rẻ
Thu nhập bền vững không thể dựa chủ yếu vào mệnh lệnh tăng lương. Tiền lương thực tăng dài hạn cần đi cùng năng suất, kỹ năng và sức mạnh thương lượng của người lao động.
Việt Nam phải chuyển từ lợi thế lao động chi phí thấp sang lực lượng lao động có kỹ năng cao hơn. Điều đó đòi hỏi đào tạo nghề gắn với nhu cầu thật của doanh nghiệp, công nhận kỹ năng, nâng chất lượng quản trị và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ.
Nếu năng suất tăng nhưng phần lớn lợi ích chỉ trở thành lợi nhuận, còn tiền lương trì trệ, chính sách cạnh tranh và quan hệ lao động phải được xem xét. Ngược lại, nếu tăng lương vượt xa năng suất trong thời gian dài, doanh nghiệp nhỏ có thể cắt việc làm hoặc chuyển sang khu vực phi chính thức. Chính sách phải xử lý cả hai rủi ro.
Giảm chi phí thiết yếu thay vì chỉ bù bằng trợ cấp ngắn hạn
Hỗ trợ tiền mặt có ý nghĩa trong khủng hoảng, nhưng không thể thay thế cải cách dịch vụ công và thị trường nhà ở.
Muốn tăng thu nhập khả dụng, Nhà nước cần tác động vào các khoản chi lớn nhất:
- Phát triển nhà ở xã hội và nhà cho thuê có khả năng chi trả. - Kiểm soát đầu cơ, minh bạch thông tin quy hoạch và giao dịch bất động sản. - Giảm chi trực tiếp từ túi người dân cho y tế. - Bảo đảm trường công đủ năng lực tiếp nhận học sinh. - Phát triển giao thông công cộng để giảm chi phí đi lại. - Giám sát giá và chất lượng các dịch vụ độc quyền hoặc có tính độc quyền cao.
Một đồng chi phí bắt buộc được giảm có tác động tương tự một đồng thu nhập tăng thêm, thậm chí bền vững hơn nếu cải cách được thiết kế tốt.
Cứu dòng tiền doanh nghiệp bằng cải cách thật
Hạ lãi suất có thể hỗ trợ nhưng không giải quyết được mọi vấn đề. Doanh nghiệp không vay nếu không có đơn hàng; ngân hàng cũng không thể cho vay vô điều kiện khi rủi ro trả nợ cao.
Những giải pháp thực chất hơn gồm:
- Rút ngắn thời gian hoàn thuế và thanh toán công nợ. - Xử lý nợ đọng trong các chuỗi xây dựng, bất động sản và mua sắm công. - Cắt bỏ giấy phép, điều kiện kinh doanh trùng lặp. - Ổn định chính sách để doanh nghiệp có thể lập kế hoạch dài hạn. - Thiết lập cơ chế phá sản và tái cấu trúc hiệu quả hơn. - Bảo vệ doanh nghiệp làm đúng trước cạnh tranh không bình đẳng và chi phí không chính thức. - Mở cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ tham gia đấu thầu và chuỗi cung ứng.
Nếu chỉ gia hạn thuế trong khi doanh nghiệp không có doanh thu, chính sách mới trì hoãn nghĩa vụ chứ chưa khôi phục được hoạt động kinh doanh.
Buộc FDI tạo liên kết sâu hơn với khu vực trong nước
Mức vốn FDI thực hiện khoảng 25,35 tỷ USD năm 2024 là thành tựu đáng chú ý. Bước tiếp theo phải là nâng chất lượng lan tỏa.
Ưu đãi đầu tư nên gắn chặt hơn với:
- Hoạt động nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam. - Đào tạo kỹ sư và lao động kỹ thuật trong nước. - Mua hàng từ nhà cung cấp nội địa đạt chuẩn. - Chuyển giao quy trình và năng lực quản trị. - Mức độ sử dụng năng lượng sạch. - Chất lượng tiền lương, bảo hiểm và an toàn lao động.
Không nên ép doanh nghiệp FDI thực hiện các cam kết trái quy định thương mại quốc tế. Nhưng Việt Nam có thể thiết kế chính sách hỗ trợ nhà cung cấp trong nước, tiêu chuẩn ưu đãi và hạ tầng công nghiệp để tăng giá trị giữ lại trong nền kinh tế.
Đánh giá cán bộ bằng chất lượng sống có thể kiểm chứng
Nếu hệ thống thi đua chủ yếu coi trọng GRDP, thu ngân sách và tỷ lệ giải ngân, chính quyền địa phương có động lực chạy theo các dự án quy mô lớn. Bộ chỉ tiêu đánh giá cần bổ sung:
- Thu nhập trung vị thực. - Tỷ lệ việc làm chính thức. - Chi phí nhà ở so với thu nhập. - Tỷ lệ doanh nghiệp tồn tại sau ba hoặc năm năm. - Thời gian xử lý thủ tục. - Chất lượng không khí, nước và không gian công cộng. - Mức độ hài lòng với y tế, giáo dục và hành chính.
Chỉ tiêu phải được kiểm toán, công bố phương pháp và cho phép đối chiếu. Nếu biến các chỉ số xã hội thành mục tiêu hình thức mới, bệnh thành tích chỉ chuyển từ GDP sang một bảng điểm khác.
Nhận định “người dân và doanh nghiệp ngày càng khó khăn” đúng đến đâu?
Nhận định này đúng với một bộ phận đáng kể nhưng không thể áp dụng đồng loạt cho toàn xã hội và mọi ngành kinh tế.
Căn cứ cho mặt khó khăn gồm số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường ở mức cao trong năm 2024; tiêu dùng sau khi loại trừ giá tăng chậm hơn số danh nghĩa; chi phí nhà ở và dịch vụ thiết yếu tạo sức ép; nhiều lao động phi chính thức thiếu mạng lưới bảo vệ; doanh nghiệp nhỏ chịu áp lực dòng tiền và công nợ.
Căn cứ cho mặt phục hồi gồm GDP tăng 7,09%; xuất khẩu, FDI và bán lẻ tăng; thu nhập bình quân của người lao động đi lên; lạm phát bình quân được giữ dưới 4%; số doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường vẫn lớn hơn số rút lui.
Sự thật vì thế không nằm ở hai cực “kinh tế rất tốt” hoặc “mọi thứ đều suy sụp”. Bức tranh chính xác hơn là:
Kinh tế Việt Nam phục hồi mạnh ở cấp độ tổng thể trong năm 2024, nhưng mức phục hồi phân hóa; nhiều hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ chưa nhận được lợi ích tương xứng, trong khi áp lực chi phí sống, nhà ở, việc làm thiếu ổn định và dòng tiền kinh doanh vẫn hiện hữu.
Đây là kết luận ít thuận tiện cho tuyên truyền, nhưng sát bản chất hơn.
Thước đo cuối cùng phải là người dân sống tốt hơn, không phải GDP bị loại bỏ
GDP cần tiếp tục được tính toán và công bố minh bạch. Nhưng sau mỗi báo cáo tăng trưởng, câu hỏi quan trọng hơn phải là: phần giá trị tăng thêm đã đi đâu?
Bao nhiêu trở thành tiền lương? Bao nhiêu được tái đầu tư? Bao nhiêu là lợi nhuận chuyển ra nước ngoài? Bao nhiêu rơi vào giá đất và tài sản? Bao nhiêu được dùng để cải thiện y tế, giáo dục, giao thông? Bao nhiêu đến được với nhóm thu nhập thấp?
Một nền kinh tế khỏe không chỉ có GDP tăng. Nó phải giúp người lao động nhận thu nhập thực cao hơn, doanh nghiệp làm ăn chân chính có khả năng tồn tại, người trẻ nhìn thấy cơ hội mua hoặc thuê nhà phù hợp, người bệnh không kiệt quệ vì viện phí và trẻ em không bị thu hẹp cơ hội chỉ vì nơi sinh ra.
Con số GDP 7,09% của năm 2024 là một dữ kiện tích cực, không nên phủ nhận. Gần 198.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường cũng là một dữ kiện, không được che khuất. Thu nhập lao động bình quân tăng là thật; việc mức bình quân không đại diện cho mọi gia đình cũng là thật.
Tăng trưởng chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi nó được chuyển thành thu nhập thực, an toàn kinh tế và cơ hội sống tốt hơn cho số đông. Nếu GDP đẹp nhưng người dân không tích lũy được, doanh nghiệp nhỏ liên tục mất khả năng tồn tại và các dịch vụ thiết yếu ngày càng xa tầm với, đó là tăng trưởng thiếu chiều sâu. Không thể gọi là thất bại hoàn toàn, nhưng cũng không đủ để tự hài lòng.
Nguồn dữ liệu tham chiếu
Các số liệu chủ yếu được đối chiếu từ Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2024 của Tổng cục Thống kê, công bố đầu tháng 1/2025. Khi sử dụng để đánh giá giai đoạn sau năm 2024, cần cập nhật bằng báo cáo mới nhất của cơ quan thống kê, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng và cơ quan đăng ký kinh doanh; không nên suy rộng số liệu năm 2024 thành kết luận cho mọi thời điểm.